Sep 202013
 

Bài thứ mười, Nửa Khuya Trở Giấc, căn-cứ trên một ca-khúc lẻ của Cole Porter, In the Still of the Night, cơn ám-ảnh thâu canh của chàng trai nhung-nhớ người tình trong viễn-tưởng. Thoáng viền trăng lạnh cuối chân trời lẩn khuất, thoạt cảm-giác tê gai đầu thớ lưỡi vợi tan, khi miền tâm-cảnh tím nhuộm sương thu thoắt hư-linh huyễn-nhập, thật khéo trùng-hợp với mối hận Tiêu-Tương đôi bạn Giả-Bảo Lâm-Đại Hồng-Lâu-Mộng đời Thanh. Tuyết-Cần-hoá lời thơ nguyên-văn Anh-ngữ, chúng tôi đồng-thời Sàigòn-hoá các chi-tiết bản-địa Nam-Kinh, để quyện-hoà khắc-khoải với du-dương ra một giấc lầu hồng gối điệp.
Continue reading »

Sep 202013
 

Bài thứ chín, Lòng Còn Gửi Áng Mây Hàng, vốn là bài aria Vi Ravviso, O Luoghi Ameni của Vincenzo Bellini, trích hồi thứ nhất vở opera La Sonnambula (Mộng-Trung Thiếu-Nữ). “Ôi quê hương, hai chữ huyền-nhiệm lạ! Trọn kiếp làm người chẳng lẽ sinh ra chỉ để trước ngày hoá-diệt còn kịp quay về nhìn lại một lần nơi cắt rốn chôn nhau?” Chất Lamartinede Musset ở đây vô-tình lại rất gần-gũi với chủ-đề “Cố quốc bình cư hữu sở tư” bên các nhà thơ Đông-Á. Bởi lẽ, chúng tôi chẳng ngại-ngần gì không viện-dẫn vài tứ thơ của Đường-Thi Bắc-Đẩu Lão Đỗ để hợp-lưu giao-chuyển với dăm câu nhạc của Nam-Âu đệ-nhất điệu từ nhân Bellini.
Continue reading »

Sep 202013
 

Bài thứ tám, Dạ-Hương Thiên-Lý, bắt nguồn từ ngâm-khúc Memory ở nhạc-kịch Cats (Ly-Mao) của Andrew Lloyd Webber. Lời thơ T. S. Eliot đã được thoát-thai hoán-cốt thành thể-điệu Vương Thực-Phủ cho bản diễn ở đây. Niềm ám-ảnh bâng-quơ trên bờ mi đờ dại của nàng xướng-kỹ Âu-Châu lãng-mạn, suýt đôi lần thảng-thốt trước khi nuốt vội điều câm nín thiên-thu, có kết-cấu ý-tứ cực-kỳ tương-phản với nỗi luyến-tiếc dưng không dưới đáy hồn cô-quạnh của người thiếu-nữ Á-Châu cổ-điển, trót một phút thả trôi để rồi chuốc lấy mối hờn ôm vạn thuở. Nhưng lạ-lùng thay, tâm-sự khắc-khoải Đau-đớn thay phận đàn bà, kiếp sinh ra thế biết là tại đâu ở cả đôi bên lại vô-cùng hô-ứng. Chẳng thế mà họ đã nhường chỗ cho nhau ngày hai ngôn-ngữ Anh-Việt thông nẻo đi về.
Continue reading »

Sep 202013
 

Bài thứ bảy, Đánh Cờ Người, ghép lời bài hát nói lừng-danh tương-truyền là của Cổ Nguyệt Đường nữ-sĩ vào với nét nhạc French can-can Le Jugement De Pâris (Thứu-Lĩnh Tam-Nương dự-thi hoa-hậu), thuộc vở opérette La Belle Hélène (Chiết-Quế hoàng-hậu bỏ nhà theo trai) của Jacques Offenbach. Chất nhạc trào-lộng ở nguyên-tác, đem các vị thánh-thần trong huyền-thoại Hy-Lạp La-Mã ra mà nhạo-báng, tân-trang họ thành một đám ông Tây bà Đầm nhố-nhăng lăng-líu kiểu biếm-hoạ Daumier, xét kỹ ra có chiều thích-hợp với chất thơ nghịch-ngợm tinh-quái của bài hát nói này; nhân-tiện cũng để nhắc-nhở lại rằng đối với kẻ chịu khó tìm-tòi, châu Á trước thế-kỷ XX không thiếu những ngõ-ngách quanh-co chứa đầy ăm-ắp những ngạc-nhiên độc-đáo.
Continue reading »

Sep 202013
 

Bài thứ sáu, Bản Tango Lâm-Truy, xuất-phát từ ca-khúc Je Ne T’aima Pas của nhà soạn nhạc Đức Kurt Weill. Dày gió dạn sương, bướm chán ong chường, bất-cần ai cả, nữ nhân-vật ngổ-ngáo này hết sức phổ-biến ở các xã-hội công-nghiệp hiện-đại, dù vẫn cực-kỳ hiếm thấy trong những cơ-chế nông-nghiệp cổ-truyền. Song nếu đất Thăng-Long thế-kỷ XIX từng sản-sinh ra hiện-tượng Hồ Xuân-Hương, thì sao ta không thí-nghiệm, mang dáng-dấp táo-bạo của bất-kỳ ai dám sống “bạt mạng” ngày nay ra cải-biến nguyên-tác trở nên Thuý-Kiều Giao-Chỉ? Ngưng-Bích lầu kia giá có giàn máy CD, biết đâu Kiều-nhi đã chẳng chết nghiện giọng hát Lê Uyên từ mấy kiếp!
Continue reading »