Nov 242014
 

Thử Bắc Một Nhịp Cầu Đi Tới Nhạc Kịch Tây-Phương

Ca-khúc “Memory” (mà nhiều người hay nhớ nhầm là “Memories”) trích từ vở nhạc-kịch đại-chúng CATS của Andrew Lloyd Webber.

Tuy vở “CATS” được tiếng là phổ một tập thơ rất hay, tập Old Possum’s Book of Practical Cats (tháng 10 năm 1939) của T. S. Eliot tả toàn mèo, nhưng chính ra ca-khúc hay nhất vở này lại không hề dính-dáng gì đến tập thơ ấy cả.

Lời của “Memory” do Trevor Nunn viết, chỉ vay mượn một vài câu từ một bài thơ khác, cũng của T. S. Eliot, là bài Rhapsody on a Windy Night.

Đây là một bài thơ nổi tiếng thâm-trầm, cho dù nội-dung không hề dính-dáng gì đến mèo, khổ nỗi những lời hát mà nó bị mang tiếng sản-sinh ra, ngược lại, dở tệ. Chỉ cần đọc qua bài thơ một lần là chúng ta cũng đủ hiểu vì sao hầu hết khách yêu thơ xưa nay đều ít nhiều lắc đầu nguầy-nguậy trước những câu hát tương-đối sáo rỗng này. Nổi tiếng rùng-rợn đến bất-hủ trong đó là câu “If you touch me, you’ll know what happiness is” (Cứ sờ tôi đi thì hiểu thế nào là hạnh-phúc, nghe cứ như lời rao treo trước các cửa kính chưng gái bán dâm ở một con phố Amsterdam nọ), một câu mà T. S. Eliot không hề đặt bút viết, mà dù có viết cả thế-kỷ cũng không thể nào bì kịp mức-độ thảm-hại đến khôi-hài. Thế mà nó bị mang tiếng là “lấy ý từ thơ ông”. Hoàn-toàn không. Câu hát ấy có thể nghe rất cảm-động hoặc thậm-chí mê hồn trên sân-khấu, qua giọng hát của một nữ-diễn-viên thượng-thặng nào đó, một giọng hát có khả-năng bao-phủ lên mớ chữ sỗ-sàng kia một vầng hào-quang ảo-diệu của thứ hy-vọng đáng thương và đầy tủi-cực, song kỳ-thực trần-trụi ra thì chỉ là một câu nói sống-sượng đến lạ-lùng.

Vì sao ca-khúc vẫn hay đến thế?

Vì giai-điệu quá tuyệt vời. Bài này là một minh-chứng hùng-hồn rằng khi đem thi-ca giao-phối với âm-nhạc, đó là một cuộc hôn-nhân tuy có nhiều vàng son rực-rỡ, song cũng không hiếm những bẽ-bàng. Bẽ-bàng là khi đồng-sàng dị-mộng, những lúc thơ hay thì nhạc không hay, và những lúc thơ đang dở (như lời ca-khúc này mà T. S. Eliot hoàn-toàn không chịu trách-nhiệm) thì nhạc lại đạt đến đỉnh cao ngất-ngưởng. Không phải bài nhạc hay nào phổ một bài thơ hay cũng được hoàn-toàn đồng-điệu. Trong suốt vở CATS, những lời thơ trác-tuyệt nhất của T. S. Eliot đều không tìm được giai-điệu bất-tử để chắp cánh cho mình, và ngược lại, giai-điệu lộng-lẫy nhất lại bị gá duyên cho những lời hát có thể nói là tẻ ngắt, nhạt phèo. Những mảnh vụn chắp vá từ bài thơ không hề của mèo Rhapsody on a Windy Night cũng vừa đủ để khiến ca-từ toát lên vẻ thần-sầu quỷ-khốc nào đó, nhưng kỳ thực chỉ là những lời tâm-sự khá nhạt-nhẽo của một ả vũ-nữ về chiều lải-nhải rằng xưa kia, chỉ cần sờ được em một cái là bao nhiêu người đã chết vì quá sướng… Vâng, có thể hấp-dẫn đấy, nhưng những thứ phục-vụ mảnh tự-ái tàn-tạ của một người sống bằng nghề không có tâm-hồn e khó có thể trở nên bất-tử.

Bất-tử chăng là nhờ câu nhạc. Câu nhạc đã mặc lên mớ lời ngổn-ngang kia một chiếc áo long-lanh huyền-thoại. Và câu nhạc này từ nguyên-thuỷ cũng không hề sáng-tác cho vở CATS. Nó là một giai-điệu mà Lloyd Webber đã “me” sẵn từ lâu, đã hằng rắp-ranh nhét vào mấy vở trước đó mà không xong, như cho vai Perón trong EVITA và vai Max trong SUNSET BOULEVARD. Cuối cùng, đến lúc tự nghiệm rằng CATS cần một giai-điêu tuyệt đẹp để làm viên ngọc cho vở, mà chính bản-thân Lloyd Webber sản-sinh không ra trên những bài thơ xuất-thần kia, Lloyd Webber bèn mở tủ lấy bài này ra đưa cho Trevor Nunn viết lời.

Vì thế chẳng nên nghe bài này trong vở CATS. Trong đó, nó chỉ là một sự xuất-kỳ bất-ý để gắn viên kim-cương vào trong một chiếc khung bằng nhựa diêm-dúa chung quanh (về mặt nhạc). Chỉ nên nghe nó qua giọng hát tuyệt vời của một nữ-ca-sĩ có trầm-tư trong giọng nói. Lời nhạc nguyên-thuỷ, như đã trình bày, chỉ ở mức-độ “muốn thử làm Trịnh Công-Sơn mà không nổi” rất quen-thuộc đối với chúng ta. Lời nhạc tiếng Pháp cũng vậy, nó còn đi vay đâu về được cả vẻ u-hoài và dáng-dấp hồ-mỵ của cái “thành-phố đã đi ngủ trưa” khiến người về “đêm thấy [mình] là thác đổ”… Nhưng vẫn vô-ích. Vẫn là Trịnh Công-Sơn phó-bản, cũng cứ chỉ tới đó mà thôi, trong khi giai-điệu của Lloyd Webber qua dải Ngân-Hà trong giọng của Mireille Mathieu thì tuyệt-nhiên chấp-chới, vẫn phom-phom chao lượn huy-hoàng.

Tốt nhất, lời nhạc chỉ nên đưa cho người hát một ít rung-cảm về đêm, về sự tĩnh-mịch, về một tình yêu đã mất, về cái tàn-nhẫn của hiên-thực trước sự tàn-phá của thời-gian, và về sự bám víu tuyệt-vọng của những mảnh hồn không đủ sức chấp-nhận thực-tiễn lạnh như băng ấy. Tất cả những cái đó, Lloyd Webber đã làm được, và Barbra Streisand, Susan Boyle, cũng như Thái-Hiền, đều đã thể-hiện vượt ngoài mức tưởng-tượng của bất-cứ một nhà thơ nào.

Trong chuyện tình giữa thơ và nhạc này, lời thơ nào cũng chỉ là một nàng Lọ-Lem. Cỗ xe song-mã bằng vàng ròng kia chính là âm-nhạc, và chỉ có giọng ca mới là ông hoàng.

 

 Posted by at 12:26 am
Sep 052014
 

Thử Bắc Một Nhịp Cầu Đi Tới Nhạc Kịch Tây-Phương

Làn-điệu (“aria”) Vi Ravviso, O Luoghi Ameni, trích hồi thứ nhất vở “opera” La Sonnambula «Mộng-Trung Thiếu-Nữ» của Vincenzo Bellini. 

Mây Hàng: mây ở núi Thái-Hàng (太行山 Tàiháng Shān), điển-cố chỉ lòng mong nhớ cha mẹ, sau này chuyển thành lòng luyến-tưởng quê-hương, nguyên-văn trích từ bộ Cu Đường-Thư quyển 89 (舊唐書/89) về Địch Nhân-Kiệt 狄仁傑 (630 – 700) ( Rénjié) như sau: 

(工部尚書閻立本)薦授並州都督府法曹。其親在河陽別業,仁傑赴並州,登太行山,南望見白雲孤飛,謂左右曰:“吾親所居,在此雲下。”瞻望佇立久之,雲移乃行。 

PHIÊN ÂM: (Công bộ Thượng-Thư Diêm Lập-Bổn) tiến thụ Tịnh châu đô đốc phủ pháp tào. Kỳ thân tại Hà Dương biệt nghiệp, Nhân-Kiệt phó Tịnh châu, đăng Thái-Hàng sơn, nam vọng kiến bạch vân cô phi, vị tả hữu viết: “Ngô thân sở cư, tại thử vân hạ.” Chiêm vọng trữ lập cữu chi, vân di nhi hành. 

DỊCH NGHĨA: (Quan Công-bộ Thượng-Thư là Diêm Lập-Bổn) tiến-cử cho Địch Nhân-Kiệt một chân làm pháp-tào tại phủ đô-đốc ở Tịnh-châu. Cha mẹ Nhân-Kiệt vẫn mưu-sinh ở Hà-Dương, Nhân-Kiệt phó-nhậm Tịnh-châu rồi, lên núi Thái-Hàng, ngóng về phương Nam thấy mấy trắng bay lẻ-loi, bảo hai bên rằng: “Nhà cha mẹ ta ở dưới mây này.” Mong ngắm đứng sững suốt giờ lâu, mây rời đi rồi mới chịu nhấc chân tiếp-tục cuộc chơi núi. 

CHÚ-THÍCH: 

 Tịnh châu (大同 Bìngzhōu): đơn-vị hành-chính cổ ở Trung-quốc, địa-phận nằm ở khoảng hai thành-phố Thái-Nguyên (太原 Tàiyuán) và Đại-Đồng (大同 Dàtóng) của tỉnh Sơn-Tây (山西 Shānxī), cộng thêm thành-phố Bảo-Định (保定 Bǎodìng) của tỉnh Hà-Bắc (河北 Héběi) ngày nay. 

 Hà-Dương (大同 Héyáng): đơn-vị hành-chính cổ ở Trung-quốc, địa-phận nằm ở thành-phố Tiên-Đô (仙都 Xiāndū) của tỉnh Chiết-Giang (浙江 Zhéjiāng) ngày nay. 

Nhân tiện xin mạn phép Lưu Ý một điều khá rắc-rối, dù thoạt nhìn có vẻ đơn-giản: Đừng nên theo Bắc-Kinh tự tiện đổi chính-tả chữ Kiệt  trong tên Địch Nhân-Kiệt 狄仁傑thành dạng . Tên người, theo một nguyên-tắc bình-đẳng và dân-chủ của phương Tây mà chúng tôi cảm thấy hữu-lý, ở nguyên-ngữ mỗi tiếng, nên viết theo dạng chính-tả mà bản-thân người ấy đã chấp-nhận, cho dù có sai chính-tả toàn-quốc đi chăng nữa. Vì vậy, cải-cách đơn-giản-hoá mặt chữ ở Trung-quốc không nên áp-dụng vô-tội-vạ cho họ Địch. 

Tiếp-tục mạch chuyện “mọi thứ chúng ta hằng đinh-ninh đơn-giản đều phức-tạp hơn chúng ta ngờ”, xin chú-ý là nguyên-tắc này chỉ dùng được khi đang còn ở nguyên-ngữ và khi vẫn đang cùng một hệ-thống chữ, cả thảy hai điều-kiện cần và đủ, chứ nếu đã đổi điều-kiện thứ nhất (muốn mang viết thành phiên âm hoặc dịch nghĩa ở các ngôn-ngữ khác), hoặc đã đổi điều-kiện thứ nhì (định chuyển sang các hình-thái mẫu-tự khác), thì nguyên-tắc này dĩ-nhiên sẽ vô-sở-dụng (irrelevant), vì dạng-thức chính-tả ấy lúc bấy giờ sẽ phải tuân-thủ các nguyên-tắc ngữ-âm của hệ-thống đích (target systems) kia. Xin cử trường-hợp danh-xưng của tất cả các nhân-vật Việt-Nam trước thế-kỷ XIX hiện đang viết thành chữ Quốc-ngữ của Alexandre de Rhodes chẳng hạn: 莫挺 -> Mạc Đĩnh-Chi. 

Tuy cả Địch Nhân-Kiệt 狄仁傑 lẫn 莫挺 Mạc Đĩnh-Chi nếu sống lại đều không ai nhận ra tên mình, nhưng hai trường-hợp này vẫn hoàn-toàn khác nhau, vì mỗi cái ứng vào thay đổi một điều-kiện khác: ở Trung-quốc hiện-đại vẫn chưa đổi nguyên-tắc chính đằng sau chữ viết, chỉ cải-hoá một mức nhỏ để tiện việc nhớ chữ hơn, trong khi Việt-Nam hiện-đại lại từng đi qua một cải-cách đảo-lộn và sâu rộng, nó khiến người trí-thức ngày nay không thể tự đọc thẳng vào lấy một trang giấy nào của tiền-nhân, và tiền-nhân nếu vẫn đang tồn-tại ở một thế-giới khói hương nào đó chắc cũng không đọc thẳng ngay vào được những điều hậu-nhân đang viết.

Đáng chú ý (theo ý chúng tôi), theo chỗ kiểm-nghiệm lại thử, ngoại-trừ hai trường-hợp hãn-hữu là hai nước Việt-Nam và Turkey (Turkey, sử Tàu cổ phiên âm là Đột-Quyết 突厥 Tújué), kỳ-dư trên thế-giới, thường khi đã xưng văn-hiến thì không thấy ai đổi chữ sau khi định hình xong văn-hoá viết, còn nếu đã ít nhất một lần đổi chữ hoặc chuyển sang hệ-thống ký-âm khác thì không thấy tự xưng văn-hiến gì (nhấn mạnh: văn-hiến khác với văn-hoá, tự xưng văn-hiến và có văn-hoá là hai khái-niệm khác nhau, thể-hiện rõ nhất ở 90% các bậc thương-gia đại-phú ngày nay ở Trung-quốc). Anh, Pháp, Đức, Ý, Hy-Lạp, Tiệp-Khắc, Nga, Nhật, Triều-Tiên, Trung-quốc, Uyghur, Ả-Rập, dăm bảy nền văn-hoá Ấn-Độ, Miến, Môn, Thái, Lào, v.v…; so sánh với Phi, Mã, Kazakh, Uzbek, thổ-dân khắp nơi v.v… Điều này hình như nên chú ý, theo chỗ thiển-kiến ở đây. Nếu vạn-nhất có ai thấy không cần, thì cũng không sao, cứ giữ bất-đồng ý-kiến. Đã là dân-chủ đa-nguyên, mong đừng vì bất-đồng quan-điểm mà sinh nghi-kỵ thiện-chí hoặc sinh thịnh-nộ thất-thiền-tâm.

Trên đây là những ghi-nhận cố-gắng phát biểu ở mức độ hoàn-toàn trung-tính (neutral), mọi suy-luận mang tính ý-thức-hệ có thể diễn dịch từ các dữ-kiện thực-tiễn này (facts) xin nhường cho bậc thức-giả gần xa duyệt-lãm. Ở đây chỉ cố thu gom góp dữ-liệu, và đăng-tải để giúp mọi người đỡ tốn thời-gian thu-thập trong thời-đại quá bận rộn này mà thôi. Chẳng tự thấy có gì đáng khen, song cũng chẳng tự thấy có gì đáng trách, do đó mọi thị-phi nếu có, xin phép không can-dự, và những mong-mỏi sẽ không bị vu oan điều gì.

Bật nút "CC" ở góc tay phải ngay dưới video và chọn "Vietnamese".

Bật nút “CC” ở góc tay phải ngay dưới video và chọn “Vietnamese”.


 Posted by at 3:49 pm