Apr 232014
 

Một gạch nối chạy từ Đông-Nam-Á sang đến thành-phố Isfahan của Iran; một người gốc Do-Thái mẹ cha đổi đạo lại hình như vô-tình đi tạo chữ cho một dân-tộc có tên gọi tương-đương với nòi giống của chính ông ta; một thành-tố rất quen-thuộc lâu ngày rồi đâm thân-thương tự bao giờ chẳng hiểu đối với một nền văn-hoá chưa hề có gương soi; tất cả tạo nên ngăn vách giữa ý-niệm và hiện-thực. Khi cảm-quan lịch-sử bị nhiều ngõ ngách ngăn lối không cho phép người đứng ngoài dễ-dàng nhìn thấy tổng-cảnh, như các khu vườn theo kiểu Trung-Hoa thường được mê-cung-hoá bằng những hòn non bộ lộng giả thành chân, thì mọi lỗ hổng đều sẽ nghiễm-nhiên mang danh là những thiết-kế có ý-đồ. Caveat emptor có khác. Thảo nào…

sticker_4.5x4.5

Về địa-danh nguyên-thuỷ Nha-Trang, mà tất cả các nguồn từ sau thời Viễn-Đông Bác-Cổ cho đến nay vẫn viết sai chính-tả tiếng Phạn, bởi chỉ mới biết phiên âm qua trung-gian mẫu-tự Chàm, mà chưa chịu dò lại với tự-điển Thiên-Trúc, xin trích-dẫn ngay từ trong bộ từ-điển Phạn-Anh của Monier-Williams ở trang 70: «कौठार wȶhārâ [Kauṭhāra] (m.) patronymic from कुठार ȶhārâ [kuṭhāra]; g. शिवादि Ӽĭwāđĭ [Śivādi].» Mọi người ngày nay phiên âm tên này ra mẫu-tự La-tinh đều viết âm-tiết thứ nhì với chữ “t” thường mà không viết đúng chữ “ȶ / ” nặng, vốn-dĩ tương-đương với âm “tr-” trong Việt-ngữ, bất-chấp cả tiếng Phạn lẫn tiếng Việt đều đòi hỏi hai âm này phải tách-biệt hẳn-hòi với nhau. Nên nhớ nếu dò xem thật kỹ ở cùng trang 70 ấy của bộ tự-điển Monier-Williams, sẽ thấy ngay sau mục cuối cùng của nhóm “kaut-”, कौत्सायन [kautsāyana], là đến mục đầu-tiên của nhóm “kauth-”, कौथुम [kauthuma], minh-xác hiển-nhiên rằng tổ-hợp कौथार [kauthāra] với chữ “t” thường không hề tồn-tại trong tiếng Phạn. Chúng tôi lặp lại: chỉ có thành-phố कौठार wȶhārâ [Kauṭhāra] với chữ “ȶ / ” nặng chứ không hề có thánh-phố कौथार [Kauthāra] với chữ “t” thường.

Mở ngược lại trang 64 để dò tự-căn कुठार ȶhārâ [kuṭhāra], chúng ta sẽ thấy: (m.) an axe {Lit. R., Lit. Bhartṛ}; a sort of hoe or spade {Lit. W.}; a tree {कुठ [kuṭha], cf. कुट [kuṭa] a hammer, mallet for breaking small stones , ax}, {Lit. L.}; name of a man, g. शिवादि Ӽĭwāđĭ [Śivādi]; of a nāga {Lit. MBh. i , 2156}; कुठारी [kuṭhārī] f. an axe {Lit. L.} (p. 64). Trang 262 không thấy có cái danh-xưng शिवादि Ӽĭwāđĭ [Śivādi], nhưng lại thấy tổ-hợp शिवदिश् Ӽĭwā-đĭӽ [Śiva-diś] (f.) “शिव Ӽĭwā [Śiva]’s quarter”, i. e. the north-east. {Lit. VarBṛS}.

Vậy thì कौठार wȶhārâ [Kauṭhāra] (Nha-Trang ngày nay) rõ-ràng là tên cổ của một tộc-cước tự xưng danh “Axe = cái Rựa = Việt”, nằm về mạn Đông-Bắc, phương-hướng đặt dưới quyền chưởng-quản của शिव Ӽĭwā [Śiva] tức là 瑞吳 Thuỵ- Ngô, ý hẳn cũng do đứng từ điểm nhìn của văn-hóa Óc-Eo chứ không hề từ điểm nhìn của văn-hoá Đồng-Dương, và do đó ắt đã nằm trong khối Mon-Khmer nguyên-thuỷ, trước khi lọt vào quỹ-đạo của các vương-triều Chiêm-Thành. Vấn-đề ở chỗ mẫu-tự Chàm đã dần-dà đánh mất sự phân-biệt cực-kỳ hệ-trọng giữa hai âm “t” thường và “ȶ / ” nặng, khiến cho mặt chữ कौठाwȶhārâ [Kauṭhāra] đúng với ngữ-nguyên bị đánh đổ đồng với कौथाwŧhārâ [Kauthāra] , vô-hình-trung tạo nên trở-ngại lớn cho các học-giả ngày nay muốn tìm hiểu nghĩa gốc của nó trong tiếng Phạn. Mẫu-tự Miến-Điện, Thái-Lan và Cao-Miên đều vẫn duy-trì được hai mặt chữ khác nhau, cho dẫu từ sau thế-kỷ XIV, trong hầu hết các thứ tiếng ở Đông-Nam-Á, âm “ȶ / ” nặng này đều bị phát-âm lẫn lộn, thường là trùng với “t” thường. Ở Việt-Nam cũng vậy, chỉ từ Thanh-Hoá trở vào Nam mới còn đọc đúng, chứ ở ngoài Bắc thì bị lẩn với âm ć (“ch-”của Quốc-ngữ).

 




Sorry, the comment form is closed at this time.