Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý – 12 – Ai Cần Chữ Hán: Niềm Tự-Hào Hậu-Đại-Ngu 4

 Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý  Comments Off on Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý – 12 – Ai Cần Chữ Hán: Niềm Tự-Hào Hậu-Đại-Ngu 4
May 012014
 

Việt-tộc, Miên-tộc và Môn-tộc: Việt-ngữ nằm trong nhóm Mon-Khmer. Khmer là Miên, mà Mon là ai? Mán, Man, Mân, Miến, Miên, Môn, Mon: nên nhớ trong tiếng Mường, chữ «người» đọc là “mõl”. Đồng-thời chú-giải thêm về tên tiếng Phạn ngày xưa của Nha-Trang.

Yamantaka

Trong kỳ 3, chúng tôi dùng tổ-hợp族腳tộc-cướcđể dịch ý chữ जनपदȷ̌ana-pada của Phạn-ngữ, một khái-niệm hoàn-toàn tương-đương với chữ πόλις pólis cực-kỳ quan-trọng trong cổ-sử Tây-phương, mà lâu nay vì chưa hội đủ cơ-sở nhân-văn, chúng ta đã phải gượng-gạo mang dịch bằng cách đi vay mượn tổ-hợp城邦thành-banghết sức lủng-củng của Hoa-ngữ hiện-đại. 2/ Với những ai có đọc qua trước-tác của Bernhard Karlgren, ắt sẽ ngạc-nhiên khi thấy chúng tôi dùng ký-hiệu “ȶ”đặc-thù của ông để viết âm “” nặng, chứ không viết âm “ć” IPA [c] đúng như cung-cách của ông. Xin giải-thích ngay là theo các học-giả về sau, từ Edwin Pulleyblank, William Baxter đến 王力 Vương Lực và李方桂Lý Phương-Quế, tất cả đều thống-nhất rằng đây là một trong những sơ-hở hiếm-hoi của Karlgren. Các âm mà học-giả Thụy-Điển này mang viết bằng bộ chữ “ȶ / ȡ / ȴ / ȵ” do ông sáng-chế lý ra đều phải là các âm tương-đương với dãy “ / / / ” của các nhà Indologists (Thiên-trúc-học), tức là thuộc về dãy मूर्धन्यmūrdhanya «màng óc» (retroflex), chứ không phải “ć / ȷ́ / ĺ / ñ”, dãy तालव्यtālavya «vòm ngạc» (palatal) trong tiếng Phạn, như ông đã lầm hiểu. Các ký-hiệu của ông từ đó vì thế mà bị bãi bỏ hẳn, nhưng nay chính nhờ đã có quá-trình chỉnh sửa khái-niệm này như vậy mà chúng tôi mới dám mạn phép dám đề-nghị tái-áp-dụng những ký-hiệu “ȶ / ȡ / ȴ / ȵ”rất thống-nhất và gọn-gàng đó để viết dãy âm 捲舌quyển-thiệt của Việt-ngữ Trung-Đại và Hán-ngữ Thiết-Vận đời Lục-Triều, vốn có phần khác-biệt đáng kể so với dãy âm 齒槽後xỉ-tào-hậu «post-alveolar» [ʧ / ʤ / ɮ / ɳʒ] của các ngôn- ngữ Tây-phương và Trung-Cận-Đông.




Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý – 11 – Ai Cần Chữ Hán: Niềm Tự-Hào Hậu-Đại-Ngu 3

 Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý  Comments Off on Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý – 11 – Ai Cần Chữ Hán: Niềm Tự-Hào Hậu-Đại-Ngu 3
Apr 232014
 

Một gạch nối chạy từ Đông-Nam-Á sang đến thành-phố Isfahan của Iran; một người gốc Do-Thái mẹ cha đổi đạo lại hình như vô-tình đi tạo chữ cho một dân-tộc có tên gọi tương-đương với nòi giống của chính ông ta; một thành-tố rất quen-thuộc lâu ngày rồi đâm thân-thương tự bao giờ chẳng hiểu đối với một nền văn-hoá chưa hề có gương soi; tất cả tạo nên ngăn vách giữa ý-niệm và hiện-thực. Khi cảm-quan lịch-sử bị nhiều ngõ ngách ngăn lối không cho phép người đứng ngoài dễ-dàng nhìn thấy tổng-cảnh, như các khu vườn theo kiểu Trung-Hoa thường được mê-cung-hoá bằng những hòn non bộ lộng giả thành chân, thì mọi lỗ hổng đều sẽ nghiễm-nhiên mang danh là những thiết-kế có ý-đồ. Caveat emptor có khác. Thảo nào…

sticker_4.5x4.5

Về địa-danh nguyên-thuỷ Nha-Trang, mà tất cả các nguồn từ sau thời Viễn-Đông Bác-Cổ cho đến nay vẫn viết sai chính-tả tiếng Phạn, bởi chỉ mới biết phiên âm qua trung-gian mẫu-tự Chàm, mà chưa chịu dò lại với tự-điển Thiên-Trúc, xin trích-dẫn ngay từ trong bộ từ-điển Phạn-Anh của Monier-Williams ở trang 70: «कौठार wȶhārâ [Kauṭhāra] (m.) patronymic from कुठार ȶhārâ [kuṭhāra]; g. शिवादि Ӽĭwāđĭ [Śivādi].» Mọi người ngày nay phiên âm tên này ra mẫu-tự La-tinh đều viết âm-tiết thứ nhì với chữ “t” thường mà không viết đúng chữ “ȶ / ” nặng, vốn-dĩ tương-đương với âm “tr-” trong Việt-ngữ, bất-chấp cả tiếng Phạn lẫn tiếng Việt đều đòi hỏi hai âm này phải tách-biệt hẳn-hòi với nhau. Nên nhớ nếu dò xem thật kỹ ở cùng trang 70 ấy của bộ tự-điển Monier-Williams, sẽ thấy ngay sau mục cuối cùng của nhóm “kaut-”, कौत्सायन [kautsāyana], là đến mục đầu-tiên của nhóm “kauth-”, कौथुम [kauthuma], minh-xác hiển-nhiên rằng tổ-hợp कौथार [kauthāra] với chữ “t” thường không hề tồn-tại trong tiếng Phạn. Chúng tôi lặp lại: chỉ có thành-phố कौठार wȶhārâ [Kauṭhāra] với chữ “ȶ / ” nặng chứ không hề có thánh-phố कौथार [Kauthāra] với chữ “t” thường.

Mở ngược lại trang 64 để dò tự-căn कुठार ȶhārâ [kuṭhāra], chúng ta sẽ thấy: (m.) an axe {Lit. R., Lit. Bhartṛ}; a sort of hoe or spade {Lit. W.}; a tree {कुठ [kuṭha], cf. कुट [kuṭa] a hammer, mallet for breaking small stones , ax}, {Lit. L.}; name of a man, g. शिवादि Ӽĭwāđĭ [Śivādi]; of a nāga {Lit. MBh. i , 2156}; कुठारी [kuṭhārī] f. an axe {Lit. L.} (p. 64). Trang 262 không thấy có cái danh-xưng शिवादि Ӽĭwāđĭ [Śivādi], nhưng lại thấy tổ-hợp शिवदिश् Ӽĭwā-đĭӽ [Śiva-diś] (f.) “शिव Ӽĭwā [Śiva]’s quarter”, i. e. the north-east. {Lit. VarBṛS}.

Vậy thì कौठार wȶhārâ [Kauṭhāra] (Nha-Trang ngày nay) rõ-ràng là tên cổ của một tộc-cước tự xưng danh “Axe = cái Rựa = Việt”, nằm về mạn Đông-Bắc, phương-hướng đặt dưới quyền chưởng-quản của शिव Ӽĭwā [Śiva] tức là 瑞吳 Thuỵ- Ngô, ý hẳn cũng do đứng từ điểm nhìn của văn-hóa Óc-Eo chứ không hề từ điểm nhìn của văn-hoá Đồng-Dương, và do đó ắt đã nằm trong khối Mon-Khmer nguyên-thuỷ, trước khi lọt vào quỹ-đạo của các vương-triều Chiêm-Thành. Vấn-đề ở chỗ mẫu-tự Chàm đã dần-dà đánh mất sự phân-biệt cực-kỳ hệ-trọng giữa hai âm “t” thường và “ȶ / ” nặng, khiến cho mặt chữ कौठाwȶhārâ [Kauṭhāra] đúng với ngữ-nguyên bị đánh đổ đồng với कौथाwŧhārâ [Kauthāra] , vô-hình-trung tạo nên trở-ngại lớn cho các học-giả ngày nay muốn tìm hiểu nghĩa gốc của nó trong tiếng Phạn. Mẫu-tự Miến-Điện, Thái-Lan và Cao-Miên đều vẫn duy-trì được hai mặt chữ khác nhau, cho dẫu từ sau thế-kỷ XIV, trong hầu hết các thứ tiếng ở Đông-Nam-Á, âm “ȶ / ” nặng này đều bị phát-âm lẫn lộn, thường là trùng với “t” thường. Ở Việt-Nam cũng vậy, chỉ từ Thanh-Hoá trở vào Nam mới còn đọc đúng, chứ ở ngoài Bắc thì bị lẩn với âm ć (“ch-”của Quốc-ngữ).

 




Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý – 10 – Ai Cần Chữ Hán: Niềm Tự-Hào Hậu-Đại-Ngu 2

 Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý  Comments Off on Ngôn-Tinh Ngữ-Tuý – 10 – Ai Cần Chữ Hán: Niềm Tự-Hào Hậu-Đại-Ngu 2
Apr 142014
 

Nước Việt ngày xưa ở Chiết-Giang, liệu có dính gì đến nước Việt-Nam của chúng ta ngày nay không? Chưa ai biết được. Ngôn-ngữ của nước Việt cổ ấy chỉ còn giữ lại có một bài duy nhất, “Việt-Nhân-Ca”, mà bên Trung-quốc đang cố chứng-minh bằng mọi giá là dạng tiền-thân của tiếng Thái, nghĩa là cương-quyết không cho phép Việt-Nam được có bất-cứ một mối liên-quan nào tới phần đất nay đã vĩnh-viễn Tàu-hoá ấy. (Xem nguyên-bản ở dưới đây bài Việt-Nhân-Ca ấy với phần tiếng Thái của các học-giả Bắc-Kinh diễn-dịch lại). Trong khi chờ đợi ngã ngũ, hẵng cứ biết rằng tên các nhân-vật ở nước Việt Chiết-Giang ấy đều rất quái-dị trong tiếng Tàu, lộ rõ bản-chất phiên-âm chuệch-choạc và gán nghĩa lúng-túng cho một thứ tiếng không phải tiếng Hán: Tây-Thi «Western Excecutivity», Câu-Tiễn «Sentence Sequentiality», Bất-Thọ “Lifeless before Long», Vô-Dư «Nothing to Spare», Vô-Chuyên «Not Much to expect From». Chúng ta hãy bắt đầu tìm hiểu.

sticker_4.5x4.5

《淮南子·精神訓·註》越,失也。又國名。Chú-thích chương “Tinh-Thần-Huấn” của “Hoài-Nam-tử”: Việt nghĩa là thất (mất-mát); còn là tên của một nước nữa.《左傳·昭四年·註》越,散也。Chú-thích mục “Chiêu-công năm thứ tư” của “Tả-truyện”: Việt nghĩa là tán (tan-tác).《左傳·宣八年·註》越國,今會稽山隂縣也。《吳越春秋》少康封其庶子於越。又姓。Chú-thích mục “Tuyên-công năm thứ tám” của “Tả-truyện”: nước Việt nay ở huyện Sơn-Âm núi Cối-Kê.按《史記》南越、東越,漢書作粵。Nhìn lại thì trong “Sử-Ký”, hai chữ Nam-Việt, Đông-Việt, đều viết thành chữ Việt bộ biện cả.

Sau đây là bài 越人歌VIỆT NHÂN CA, bản lưu duy nhất của ngôn-ngữ mà Tây-Thi và Câu-Tiễn nói, còn chép lại ở chương 善說 “Thiện-Thuyết” của bộ 說苑“Thuyết-Uyển”,  diễn-dịch thành tiếng Thái hiện-đại, theo chuyên-gia Trung-quốc鄭張尚芳 Trịnh-Trương Thượng-Phương (Zhengzhang Shangfang 郑张尚芳) dựa trên một ý của韋慶穩 Vệ Khánh-Ổn (người gốc Trang, Wei Qingwen 韦庆稳), trích đăng từ bài tham-luận “The power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in  southern China and northern Vietnam” của giáo-sư Jerold A. Edmondson ở khoa Ngôn-Ngữ-học (Department of Linguistics) của The University of Texas at Arlington ở http://www.uta.edu/faculty/jerry/pol.pdf. Nếu ai muốn xem một ý-kiến dịch bài này thành tiếng Việt-Nam hiện-đại thì xin duyệt-lãm phần biên-khảo của một nữ-cư-dân mạng lấy hiệu là Provincial Governor (Cishi 刺史) ở điện-chỉ võng-trạm là http://www.chinahistoryforum.com/topic/30242-yueren-ge-

1. 濫兮抃草濫 LẠM HỀ BIỆN THẢO LẠM (vô-nghĩa trong tiếng Hán)

Âm Hán cổ: ɦgraams ɦee brons tshuuʔ glam

Chữ Thái ngày nay: ค่ํา แฮ เพลิน เจอ, เจอะ ค่ํา

Âm Thái ngày nay: glam C ɦɛɛ A blɯɯn A ʨɯɯ(ʔ) glam C

Nghĩa từng chữ hiểu theo tiếng Thái: evening particle joyful meet evening

Dịch sang Anh-ngữ: ‘Oh, the fine night, we meet in happiness tonight.’

2. 予昌桓澤予昌州 DƯ XƯƠNG HOÀN TRẠCH DƯ XƯƠNG CHÂU (vô-nghĩa trong tiếng Hán)

Âm Hán cổ: la thjaŋ < khjaŋ gaa drag la thjaŋ < khjaŋ tju < klju

Chữ Thái ngày nay: เรา ชาง กระ ดาก เรา ชาง แจว

Âm Thái ngày nay: rau A djaaŋ B kraʔ A ʔdaak D rau A djaaŋ B ʨɛɛu A

Nghĩa từng chữ hiểu theo tiếng Thái: we apt to shy ashamed we, I be good at to row

Dịch sang Anh-ngữ: ‘I’m not a man who steps forward, ah! I am just a good boatman.

3. 州湛州焉;乎秦胥胥CHÂU TRẠM CHÂU YÊN; HỒ TẦN TƯ TƯ (vô-nghĩa trong tiếng Hán)

Âm Hán cổ: tju < klju khaamʔ tju < klju jen ȶiôg sa sa

Chữ Thái ngày nay: แจว าม แจว เยิ่นเย ชื่น สะ สะ

Âm Thái ngày nay: ʨɛɛu A khaam C ʨɛɛu A jɯɯn B djɯɯn B saʔ A

Nghĩa từng chữ hiểu theo tiếng Thái: row cross row slowly particle joyful satisfy, pleased

Dịch sang Anh-ngữ:  ‘Rowing slowly across the river, ah! My heart is at ease.’

4. 縵予 昭澶秦踰 MẠN DƯ CHIÊU TRIỀN THÁI DU (vô-nghĩa trong tiếng Hán)

Âm Hán cổ: mooms la ɦaa tjau < kljau daans ʣin lo

Chữ Thái ngày nay: มอม เรา ฮา เจ าน ชิน รู

Âm Thái ngày nay: mɔɔm C raa A ɦaa ʨau C daan B djin ruu C

Nghĩa từng chữ hiểu theo tiếng Thái: ragged I particle prince Y. Excellency acquainted know

Dịch sang Anh-ngữ: ‘Low-born though I am, ah! I made acquaintance of your Royal Highness.

5. 滲惿随河湖 SẤM ĐỀ TUỲ HÀ HỒ(vô-nghĩa trong tiếng Hán)

Âm Hán cổ: srɯms djeʔ<gljeʔ sɦloi gaai gaa

Chữ Thái ngày nay: ซุ ใจ เรื่อย ใครคะ

Âm Thái ngày nay: zum B ʨaɯ A rɯai B grai B gaʔ A

Nghĩa từng chữ hiểu theo tiếng Thái: hide heart forever yearn particle

Dịch sang Anh-ngữ: Hidden forever in my heart, ah! is my adoration and longing.’